Bệnh đạo ôn (cháy lá) lúa là 1 trong những dịch hại nghiêm trọng nhất trên cây lúa. Bệnh đạo ôn gây thiệt hại năng suất trung bình từ 0,7 đến 17,5%, giả dụ bệnh nặng thiệt hại có thể lên tới 80% (Bonman et at..., 1986). Có nghĩa bệnh Đạo ôn có thể gây thiếu ăn cho vài trăm triệu tới vài tỉ người dân 1 năm, gây thiệt hại khôn lường. Triệu chứng bệnh đạo ôn hại lúa Bệnh có thể gây hại ở gần như những giai đoạn từ công đoạn mạ tới lúc trổ chín và gây hại ở toàn bộ các phòng ban của cây như lá, bẹ lá, đốt thân, cổ bông, cổ gié và hạt. Trước đây bệnh thường xuất hiện ở vụ Đông Xuân nhưng hiện tại bệnh xuất hiện hầu như vòng quanh năm. Trên lá lúa: Vết bệnh xuất hiện trên lá thay đổi từ vết chấm đen (chấm kim) tới hình oval có mảng xám trắng ở giữa và viền hẹp màu nâu nhạt bên ngoài, các vết bệnh lan dần kéo dài dạng hình mắt én, rộng ở giữa và nhọn ở 2 đầu. Bệnh nặng nhiều vết bệnh liên kết lại có nhau làm lá lúa bị cháy (nên được gọi là bệnh cháy lá) Trên cổ lá: bệnh tấn công ngay cổ lá giữa phiến lá và bẹ, vết bệnh có màu nâu đỏ sau chuyển qua nâu sậm, bệnh nặng làm gãy lá và lá hư. Trên đốt thân: vết bệnh màu nâu làm đốt teo lại, ví như bệnh xuất hiện thời điểm lúa đang trổ thì rất nhiều bông bị gạch trắng nhưng lấy tay rút lên thấy khó hơn triệu chứng gạch trắng do sâu đục thân. Trên cổ bông, cổ gié: bệnh tấn công ngay cổ bông hoặc cổ gié, vết bệnh màu nâu thối tóp lại làm đông đảo bông hoặc từng gié bị gạch. Nếu như bệnh xuất hiện sớm hồ hết bông hoặc từng gié lúa bị gạch trắng. >>> Xem thêm tại: https://globalcheck.com.vn/benh-dao-on-phuong-phap-phong-tru-dao-on-tren-lua-n15625.html Tác nhân gây bệnh đạo ôn lúa Bệnh đạo ôn do nấm Pyricularia grisea Sacc., trước kia còn gọi là Pyricularia oryzae Cav. (Giai đoạn sinh sản hữu tính gọi là Magnaporthe grisea) gây hại và được ghi nhận hiện diện ở hơn 80 quốc gia trồng lúa trên toàn cầu. Bệnh được tìm thấy ở Ý vào năm 1560, tại Trung Quốc vào năm 1637. Tại Việt Nam, F. Vincents phát hiện chính thức vào năm 1921 ở Miền Nam. Theo phổ biến nghiên cứu thì bệnh càng ngày càng phát sinh thêm nhiều giống nòi mới có độc tố cao nên khó phòng trị. Theo TS. Nguyễn Thị Phong Lan và đội ngũ tác fake thì tại ĐBSCL có trên 40 nòi giống nấm Pyricularia grisea gây ra bệnh đạo ôn trên cây lúa. Điều kiện phát sinh lớn mạnh Bệnh đạo ôn thường tăng trưởng mạnh trong điều kiện thời tiết âm u, giờ nắng trong ngày ít, sáng sớm có sương mù hay trời có mưa phùn, nhiệt độ thích hợp nhất từ từ 18 – 26oC. Những nguyên tố như giống nhiễm, bón phân đạm nhiều, sạ dày, lá lúa nằm ngang, phiến lá rộng, ruộng thiếu nước, cỏ dại đa dạng là điều kiện thuận tiện để nấm nảy sinh, phát triển và gây bệnh nặng. Các nhân tố làm chậm hoặc ngăn cản công đoạn nảy sinh lớn mạnh của bệnh đạo ôn là: giống kháng bệnh, gieo sạ thưa, có thời gian phơi đất trước khi sạ, bón đủ khoáng chất, đặc trưng là canxi, silic, kali... Không những thế về yếu tố giống kháng, các nghiên cứu vừa qua có chỉ ra rằng hiện tại không có giống kháng tuyệt đối mà chỉ có giống kháng tạm bợ. Nghĩa là, giống kháng bệnh tốt trong 2 – 3 vụ đầu nhưng sau đó có thể bị nhiễm bệnh đạo ôn, thậm chí là nhiễm rất nặng. 1 Số giống nhiễm nặng: Jasmine 85, Nàng Hoa 9, VD 20, RTV, OM 4900, OM 5451. >>> Xem thêm tại: https://globalcheck.com.vn/ Cách thức phòng trừ bệnh đạo ôn trên lúa Chọn giống kháng: ngoài ra hiện nay do các giống chất lượng cao giải quyết được xuất khẩu thì ít kháng hoặc chỉ kháng tạm thời nên nguyên tố này tùy điều kiện từng vùng mà coi xét. Làm đất kỹ, vệ sinh đồng ruộng sạch sẽ, tạo điều kiện cho đất có thời gian nghỉ ngơi hoặc luân canh cây trồng... Để cắt nguồn bệnh. Quản lý không để trong ruộng có đa dạng cỏ vì cỏ dại là ký chủ quan yếu của nấm gây bệnh đạo ôn. Thăm đồng thường xuyên, vạch lá lúa ra để Quan sát, giả dụ thấy vết bệnh đạo ôn mới chớm xuất hiện thì phun thuốc ngay. Sạ thưa vừa phải, bón phân cân đối, tăng cường Canxi, Silic để giúp lúa cứng cây (thành lóng dày, bẹ lúa ấp ủ sát lóng), lá lúa dày đứng thẳng (lá lúa không nằm ngang) để hạn chế lá lúa “hứng” bào tử nấm và không cho bào tử nấm nảy mầm thâm nhập vào bên trong. Khi sử dụng thuốc phải tiêu dùng thuốc đặc trị bệnh đạo ôn, không tiêu dùng thuốc phổ rộng hoặc tiêu dùng dưới liều quy định để hạn chế bệnh tăng trưởng dằng dai, bệnh mau tái phát và nấm dễ “lờn” thuốc. Chọn thuốc có hoạt chất thế hệ mới, cơ chế ảnh hưởng khác có các loại thuốc đã dùng đa dạng năm trước để hiệu quả phòng trị tốt, chẳng phải phun lại đa dạng lần gây hoang toàng và nguy cơ tồn dư thuốc BVTV cao. Thường xuyên thăm đồng, vạch lá lúa Quan sát kĩ, thấy có vết bệnh thì xử lý ngay.